Công báo Việt Nam
Công báo Tỉnh Đồng Nai


GIỚI THIỆU VỀ TRUNG TÂM CÔNG BÁO



      Hiện nay, trong điều kiện thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta là: Tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nước, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hội nhập khu vực quốc tế, thì việc minh bạch hóa, công khai hóa các chính sách, thủ tục của các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương là một yêu cầu cần thiết. Trong quá trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Công báo tỉnh là ấn phẩm thông tin pháp lý chính thức của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam do UBND tỉnh xuất bản; là một công cụ pháp lý quan trọng của Nhà nước nhằm công bố các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước cấp tỉnh và huyện ban hành. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND quy định rõ: “Văn bản pháp luật trên Công báo có cùng giá trị với văn bản gốc; là văn bản chính thức duy nhất cùng với bản gốc để đối chiếu và sử dụng trong mọi trường hợp khi có sự khác biệt giữa văn bản đăng Công báo và văn bản có từ các nguồn khác hoặc khi có sự tranh chấp pháp lý”. Công báo còn là kênh thông tin pháp lý chính thống cho mọi đối tượng thực thi pháp luật, góp phần vào việc thực hiện nguyên tắc “Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” và là cẩm nang pháp lý cho mọi tổ chức, cơ quan, cá nhân công dân.


      Thực hiện Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3/2004 của Chính phủ về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;


      Căn cứ Nghị định số 136/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ về quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;


      Căn cứ Thông tư số 03/2006/TT-VPCP ngày 17/02/2006 của Văn phòng Chính phủ Hướng dẫn thi hành Nghị định số 104/2004/NĐ-CP ngày 23/3/2004 của Chính phủ về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của Công báo cấp tỉnh;


      Căn cứ Quyết định số 4246/QĐ-UBND ngày 28/4/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc thành lập Trung tâm Công báo thuộc Văn phòng UBND tỉnh Đồng Nai;


      Căn cứ Quyết định số 24/QĐ-VP ngày 28/7/2006 của Văn phòng UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Công báo tỉnh Đồng Nai;


      Từ những cơ sở trên, Trung tâm Công báo tỉnh Đồng Nai ra đời và chính thức đi vào hoạt động theo Quyết định số 4246/QĐ-UBND ngày 28/4/2006 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh nhằm thực hiện tốt chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực xuất bản và phát hành Công báo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.



CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TRUNG TÂM CÔNG BÁO



       I. Chức năng


      DTrung tâm Công báo thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (sau đây gọi tắt là Công báo tỉnh) là đơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng được ngân sách địa phương đảm bảo cấp toàn bộ kinh phí hoạt động, kinh phí xuất bản theo quy định của pháp luật.


      Công báo tỉnh là ấn phẩm thông tin pháp lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do UBND tỉnh xuất bản, trực tiếp quản lý việc xuất bản và phát hành Công báo, quản lý việc cấp phát, sử dụng đối với Công báo cấp miễn phí cho các cơ quan, tổ chức trong tỉnh.


      Trung tâm Công báo chịu sự chỉ đạo toàn diện của Văn phòng UBND tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan Công báo Trung ương.


      Trụ sở Trung tâm Công báo tỉnh đặt tại Trụ sở khối Nhà nước (tầng 7), số 02 đường Nguyễn Văn Trị, phường Thanh Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.


       II. nhiệm vụ và quyền hạn


      1. Nhiệm vụ và trách nhiệm của Trung tâm Công báo


      1.1. Tiếp nhận, đăng ký, công bố, lưu trữ văn bản do các cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền ban hành gửi đến.


      N1.2. Rà soát, kiểm tra lần cuối các văn bản trước khi công bố trên Công báo theo những tiêu chí sau: Căn cứ pháp lý để ban hành, thẩm quyền, nội dung, hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định pháp luật.


      1.3. Giúp Chánh Văn phòng UBND tỉnh soạn thảo trình UBND tỉnh, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động Công báo và tổ chức, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó sau khi ban hành, tham mưu cho lãnh đạo UBND tỉnh các nội dung liên quan đến việc rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo.


      1.4. Quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu của Công báo tỉnh lên Công báo điện tử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức hoạt động và trực tiếp quản lý Công báo điện tử cấp tỉnh sau khi được thành lập.


      1.5. Lập dự toán kinh phí hoạt động, kinh phí xuất bản, phát hành Công báo hàng năm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, quản lý, sử dụng đối với hoạt động tài chính của Trung tâm Công báo theo quy định pháp luật.


      1.6. Báo cáo định kỳ, hoặc theo yêu cầu của cơ quan Công báo Trung ương về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ xuất bản và phát hành Công báo.


      1.7. Hàng năm, theo hướng dẫn của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và căn cứ vào tình hình cụ thể của địa phương, Trung tâm Công báo lập danh sách dự kiến các đối tượng được cấp phát Công báo miễn phí để trình UBND tỉnh quyết định. Trung tâm Công báo trực tiếp phối hợp với các đại lý, đơn vị, tổ chức việc cấp phát đầy đủ, kịp thời theo danh sách đã phê duyệt, chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra tiến độ phát hành, quản lý việc sử dụng Công báo miễn phí và báo cáo UBND tỉnh theo quy định.


      1.8. Trên cơ sở kế hoạch ban hành văn bản hàng tháng, quý, năm của các cơ quan ban hành văn bản, Trung tâm Công báo lập kế hoạch xuất bản và phát hành Công báo đầy đủ và kịp thời.


      1.9. Bảo đảm việc tiếp nhận và tổ chức đăng văn bản trên Công báo đầy đủ, chính xác trong thời hạn 10 ngày (trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày) kể từ ngày văn bản được thông qua hoặc ký ban hành, chịu trách nhiệm về việc không công bố, công bố không đầy đủ, kịp thời các văn bản đã tiếp nhận đủ điều kiện đăng Công báo.


      1.10. Hàng tháng, Trung tâm Công báo giúp Chánh Văn phòng UBND tỉnh lập báo cáo trình Chủ tịch UBND về tình hình tiếp nhận và đăng văn bản pháp luật trên Công báo, đề xuất, kiến nghị các biện pháp giải quyết khó khăn, vướng mắc (nếu có) nhằm đảm bảo việc đăng đầy đủ, chính xác, kịp thời văn bản pháp luật trên Công báo.


      2. Quyền hạn của Trung tâm Công báo:


      2.1. Trung tâm Công báo trực tiếp quản lý tài chính đối với hoạt động xuất bản và phát hành Công báo theo quy định pháp luật.


      2.2. Văn bản gửi đến đăng Công báo khi kiểm tra, rà soát phát hiện văn bản pháp luật có sai sót các tiêu chí (căn cứ pháp lý để ban hành, thẩm quyền, nội dung, hình thức, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định pháp luật) Trung tâm Công báo có quyền gửi trả lại văn bản và đề nghị cơ quan ban hành văn bản xử lý, chỉnh sửa theo đúng quy định pháp luật hiện hành. Trung tâm Công báo không chịu trách nhiệm về việc đăng chậm đối với văn bản này.


      2.3. Đối với văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp, chính sách quan trọng phải được công bố sớm trên Công báo do Giám đốc Trung tâm Công báo xem xét, quyết định.


      2.4. Ngân sách địa phương bảo đảm cấp toàn bộ kinh phí cho hoạt động xuất bản, phát hành Công báo miễn phí theo quyết định của UBND cấp tỉnh.


      2.5. Ngoài số lượng Công báo miễn phí nêu trên, căn cứ vào nhu cầu của độc giả, Trung tâm Công báo trực tiếp hoặc thông qua các đại lý, đơn vị, cá nhân có đủ điều kiện phát hành Công báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo phương thức lấy thu bù chi.




CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY VÀ LỀ LỐI LÀM VIỆC
CỦA TRUNG TÂM CÔNG BÁO



       I. Cơ cấu tổ chức:


      1. Lãnh đạo Trung tâm Công báo:

      Trung tâm Công báo tỉnh có Giám đốc, từ 1-2 Phó Giám đốc. Giám đốc do Chủ tịch UBND tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Chánh Văn phòng UBND tỉnh. Phó Giám đốc do Chánh Văn phòng UBND tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Giám đốc Trung tâm Công báo.

      2. Các phòng chuyên môn:


- Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ.
- Phòng Biên tập.
- Phòng Phát hành.
- Phòng Công báo điện tử.


      Mỗi phòng có Trưởng phòng, phó phòng và các chuyên viên. Nhiệm vụ quyền hạn cụ thể do Giám đốc Trung tâm phân công theo từng lĩnh vực công tác.


      Biên chế của Trung tâm Công báo tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định trong tổng biên chế sự nghiệp của tỉnh và được ngân sách Nhà nước đảm bảo cho hoạt động.


       II. Lề lối làm việc:


      - Trung tâm Công báo tỉnh làm việc theo chế độ Thủ trưởng, Giám đốc Trung tâm là người đứng đầu, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Chánh Văn phòng UBND tỉnh về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Công báo và đồng thời là chủ tài khoản cơ quan Công báo tỉnh.


      - Phó Giám đốc Trung tâm là người giúp việc cho Giám đốc, được Giám đốc phân công phụ trách một số lĩnh vực công tác cụ thể, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công.


      - Trung tâm Công báo đảm bảo chế độ giao ban hàng tuần một lần với Trưởng, phó các phòng để kiểm điểm đánh giá việc thực hiện công tác trong tuần và xây dựng chương trình công tác cho tuần tới.


      - Hàng tháng Trung tâm tổ chức họp cán bộ, công chức Trung tâm để trao đổi công tác giữa các phòng, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ và triển khai công tác tháng tới.


      - Sáu tháng họp sơ kết và cuối năm tổ chức hội nghị tổng kết công tác nhằm đánh giá nhiệm vụ chính trị trong năm và triển khai chương trình công tác năm tới.


       III. Chức năng và nhiệm vụ các phòng chuyên môn:


      1. Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ:


      - Tiếp nhận, phân loại, vào sổ đăng ký các văn bản pháp luật;


      - Rà soát, kiểm tra lần cuối các văn bản pháp luật gửi đăng Công báo. Khi phát hiện văn bản có sai sót về căn cứ pháp lý để ban hành, thẩm quyền, nội dung, thể thức, hình thức, kỹ thuật trình bày văn bản,… thì kiến nghị các cơ quan ban hành chỉnh sửa hoặc đề xuất các phương án xử lý để trình cấp có thẩm quyền quyết định;


      - Sắp xếp các văn bản đủ điều kiện thành từng số Công báo để chuyển cho phòng Biên tập;


      - Lập các báo cáo định kỳ, đột xuất về chuyên môn, nghiệp vụ để báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh và cơ quan Công báo Trung ương theo hướng dẫn chung;


      - Lập dự toán kinh phí hoạt động, kinh phí xuất bản, phát hành Công báo hàng năm để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;


      - Thực hiện các nhiệm vụ tài chính, kế toán và hành chính-quản trị theo quy định chung.


      2. Phòng Biên tập:


      - Thu thập bản ghi điện tử, biên tập và chịu trách nhiệm về nội dung biên tập của từng số Công báo;


      - Đọc và soát lỗi của bản in thử so với bản chính, bản duyệt in thử cuối cùng trước khi chuyển in chính thức.


      3. Phòng Phát hành:


      - Lập kế hoạch xuất bản, phát hành Công báo hàng tháng, quý, năm; tổng hợp các báo cáo về hoạt động xuất bản, phát hành Công báo sáu tháng và hằng năm để trình UBND tỉnh theo quy định pháp luật;


      - Kiểm tra, theo dõi tiến độ, chất lượng in ấn và phát hành Công báo.


      - Soạn thảo các hợp đồng liên quan đến việc in ấn, phát hành Công báo và thực hiện các giao dịch hợp đồng theo quy định pháp luật;


      - Thực hiện các giao dịch khác liên quan đến hoạt động xuất bản, phát hành Công báo.


      4. Phòng Công báo điện tử:


      - Xây dựng, quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu của từng số Công báo lên trang tin điện tử tỉnh;


      - Cập nhật cơ sở dữ liệu công báo tỉnh lên Công báo điện tử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định pháp luật;


      - Chuẩn bị các tiền đề vật chất, kỹ thuật cho sự ra đời của Công báo điện tử và triển khai các hoạt động sau khi Công báo điện tử được thành lập.


       IV. Văn bản đăng Công báo:


      1. Các văn bản được đăng trên Công báo:


      a. Văn bản quy phạm pháp luật:


      - Nghị quyết Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện;


      - Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.


      b. Văn bản pháp luật khác:


      - Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện không chứa quy phạm pháp luật được ban hành để giải quyết các công việc cá biệt, cụ thể.


      - Quyết định, chỉ thị cá biệt do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định từ Điều 82 đến Điều 96 và Điều 124 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.


      - Quyết định, chỉ thị cá biệt do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6 và 7 Điều 127 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.


      - Quyết định đính chính văn bản quy phạm pháp luật có sai sót về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.


      - Điều ước Quốc tế do các cơ quan Nhà nước ở Trung ương ký kết hoặc gia nhập được trực tiếp áp dụng tại địa phương.


      - Thỏa thuận Quốc tế do địa phương ký kết với địa phương các nước hoặc cá vùng lãnh thổ, các tổ chức Quốc tế theo quy định của pháp luật hiện hành về ký kết và thực hiện thỏa thuận Quốc tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


      - Văn bản cá biệt của HĐND và UBND cấp huyện được thực hiện theo Quyết định số 3098/QĐ-UBND ngày 28/9/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai về việc đăng Công báo các văn bản pháp luật của Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Biên Hòa.


      - Việc đăng Công báo các văn bản pháp luật khác do Chủ tịch UBND tỉnh quy định.


      2. Thủ tục văn bản gửi đăng Công báo:


      - Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ký ban hành, các văn bản quy định tại Mục II của Thông tư 03/2006/TT-VPCP ngày 17 tháng 02 năm 2006 của Văn phòng Chính phủ về hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Công báo cấp tỉnh phải được gửi đăng Công báo.


      - Cơ quan ban hành văn bản phải gửi 02 bản chính cùng bản ghi điện tử có chứa nội dung chính xác với văn bản chính để đăng Công báo, trang đầu của văn bản phải đóng dấu bằng mực đỏ với dòng chữ: “Văn bản gửi đăng Công báo”.


      - Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản pháp luật của HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện và văn bản của Chủ tịch UBND tỉnh gửi đăng Công báo phải tuân thủ các quy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND; điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản.


      - Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật do HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện ban hành gửi đăng Công báo phải tuân thủ Điều 51 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004 và phải được ghi rõ tại văn bản đó./.